NẤC THANG HẠNH PHÚC

Thứ hai - 04/04/2016 00:17
Hạnh phúc có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh thần và đạo đức của con người.
NẤC THANG HẠNH PHÚC
Hạnh phúc là một phạm trù trừu tượng, là mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Vậy hạnh phúc là gì? và làm thế nào để hạnh phúc thì có nhiều quan niệm khác nhau[1]. Hạnh phúc có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống tinh thần và đạo đức của con người. Nó là nền tảng giúp con người xây dựng lý tưởng, mục tiêu và thái độ sống. Nó cũng là hạt nhân, là thước đo, định hướng để xác lập hành vi thiện ác của con người.

Aristote đã từng đề cập đến vấn đề hạnh phúc như là một sự hoàn thiện về mọi mặt từ đời sống vật chất đến đời sống tinh thần của mỗi cá nhân. Ông nói: “Hạnh phúc là sự phát triển hoàn toàn đầy đủ các đức tính của một con người. Hạnh phúc đồng nghĩa với đạo đức.”

Các triết gia, các nhà đạo đức đều nêu ra kinh nghiệm hạnh phúc theo quan điểm riêng của mình nhưng vẫn có một điểm chung: hạnh phúc là một cảm thọ có điều kiện, nó là một cảm giác thoải mái, sung sướng vui tươi và phù hợp với điều kiện của môi trường sống. Cảm giác này gọi theo danh từ Phật học là lạc thọ, một trong ba thọ: khổ thọ, lạc thọ và không khổ không lạc thọ. Mà đã là cảm thọ thì nó luôn thay đổi. Có khi do sự hiện hiện của tham sân chấp ngã mà nó trở thành nguyên nhân của khổ đau. Và cũng có những cảm giác hạnh phúc làm nền tảng cho những cảm giác hạnh phúc cao hơn. Đức Thế Tôn có lần so sánh hạnh phúc của vua Magadha Seniya Bimbisara và Ngài. Vua Magadha Seniya Bimbisara không thể sống thuần túy hạnh phúc trong một ngày một đêm còn Ngài có thể sống thuần túy hạnh phúc luôn trong bảy ngày bảy đêm[2]. Đức Phật thường dạy đệ tử phải quán chiếu để biết rõ bản chất của hạnh phúc.

Lần nọ, cư sĩ Dìghajanu đến thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, chúng con là những người cư sĩ bình thường, sống đời sống gia đình với vợ con. Xin Thế Tôn dạy cho chúng con sống như thế nào để được hạnh phúc trong hiện tại và cả sau này". Ðức Phật dạy rằng: "Có bốn điều có thể giúp hành giả được sống hạnh phúc. Có bốn loại hạnh phúc vật chất mà cư sĩ tại gia có thể thọ hưởng, thỉnh thoảng và tùy cơ hội, là hạnh phúc được có vật sở hữu, hạnh phúc được có tài sản, hạnh phúc không nợ nần và hạnh phúc không bị khiển trách[3]. Nhìn ở bình diện này thì đức Phật khuyến khích hàng Phật tử tại gia lo ổn định kinh tế bằng con đường chân chính (Chánh mạng). Vì tài sản là phương tiện sống của con người. Con người sống không thể thiếu phương tiện. Tạo ra tài sản cũng như biết quản lý và sử dụng nó một cách hợp pháp, chứng tỏ là một người cư sĩ chuẩn mực và trưởng thành, kinh gọi đó là đầy đủ sự phòng hộ[4].

Xuyên suốt trong giáo lý của đạo Phật là giúp con người vơi bớt khổ đau rồi dần đến đoạn tận khổ đau trong ý nghĩa hiện thực nhất. Đạo đức là nền tảng của hạnh phúc. Nó được xây dựng trên những cơ sở thực tiễn phù hợp với hoàn cảnh xã hội, là những nấc thang hướng thượng để Phật tử bước lên. Nấc thang đó chính là năm giới.

Khi đã quay về nương tựa Phật, pháp, tăng rồi chúng ta nên thực tập năm giới hay nguyên tắc đạo đức.
Vậy giới là gì? thực tập giới như thế nào?

Giới có nghĩa là ngăn ngừa điều xấu ác hay thiện luật nghi nên gọi là giới luật. Giới cũng là pháp nên còn gọi là giới pháp. Thực tập về giới ta phải có niềm tin. Ta tin vào cái cao đẹp phù hợp với sự thật của cuộc sống có thể làm nền tảng cho hạnh phúc thật sự và lâu dài. Giới là một nghệ thuật sống, nghệ thuật tạo dựng hạnh phúc cho ta và cho người. Ta tin vào hiệu lực của giới như là sự hiện diện của chân, thiện, mỹ mà ta luôn ngưỡng mộ và tôn kính. Giới là ngọn đuốc soi đường cho ta khỏi sa hầm tà kiến, tà hạnh. Giới củng cố nền tảng hạnh phúc, bảo vệ gia đình, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ văn minh. Thực tập về giới ta phải học về bản chất, hình tướng và công dụng của giới. Cho nên giới là đối tượng niềm tin của ta. Vì niềm tin cần thiết cho nếp sống đạo Phật. Nhưng không phải là tin vào sự mặc khải của một đấng thượng đế thần linh hay một nguyên lý siêu hình nào mà ta không kiểm chứng được. Ta càng thực tập thì càng có kinh nghiệm và hiểu biết về giới một cách sâu sắc. Năm giới rất cần thiết hàng Phật tử như ánh sáng mặt trời cần thiết cho các loài thảo mộc, như khí ôxy cần cho sự hô hấp của con người. Giới được hình thành từ kinh nghiệm của đức Phật và kinh nghiệm hành trì của nhiều thế hệ Phật tử. Nếu không thực  theo năm giới thì ta sẽ đi vào con đường khổ đau và đọa lạc, gia đình và xã hội ta cũng sẽ đi vào con đường khổ đau và sa đọa. Cho nên năm Giới vừa là nghệ thuật sống vừa là niềm tin của chúng ta. 

Đức Phật dạy nếu biết thực tập năm giới pháp thì ta sẽ đạt tới khả năng an trú hạnh phúc trong hiện tại. Vậy năm giới là gì? 

Giới thứ nhất: giới không giết hại sinh vật.

Người đệ tử áo trắng xa lìa sự giết hại, chấm dứt sự giết hại, buông bỏ khí cụ, biết hổ thẹn, tu tập tâm từ bi, hộ vệ cho mọi loài sinh vật, kể cả các loại côn trùng nhỏ nhít. Vị ấy dứt trừ tâm niệm giết hại. Đó là giới pháp thứ nhất, người đệ tử áo trắng khéo hộ trì[5].

Bản chất của giới thứ nhất là bảo vệ sự sống của sinh vật. Thực tập giới này thì không giới hạn trong phạm vi hình thức mà đức Phật dạy phải diệt trừ tận gốc tâm niệm giết hại. Như vậy, giới này trước hết thuộc về tánh giới. Người Phật tử hộ trì giới này không những bằng hành động của thân khẩu mà còn phải thực hành bằng tâm niệm. Muốn diệt trừ tận gốc tâm niệm giết hại thì người Phật tử phải biết hổ thẹn và tu tập tâm từ, tâm bi. Hổ (tiếng Hán: tàm 慚, Sankrit: hrī) là thẹn với lòng vì không thể bảo vệ cho một sinh mạng. Thẹn (tiếng Hán: quý 愧, sankrit: apatrāpya) xấu hổ khi so sánh với người, tại sao người khác bảo vệ sinh vật còn mình thì không làm được như họ. Từ (tiếng Hán 慈, Sankrit: maitrī) là hiến tặng niềm vui cho kẻ khác. Mà niềm vui căn bản là được sống bình an, hạnh phúc. Bi (tiếng Hán 悲,Sankrit: karuṇa) là làm vơi đi nỗi khổ đau của người khác. Còn nỗi khổ nào hơn khi sống trong phập phòng lo sợ, không biết tính mạng mình sẽ ra sao, không biết đời sống mình sẽ như thế nào? Đây cũng là bốn tâm lớn của một vị Bồ-tát. Khi tu tập được bốn tâm niệm này thì lập tức ta dứt trừ tâm niệm giết hại. Và kết quả là ta bảo vệ cho tất cả các loài sinh vật kể cả loài côn trùng nhỏ nhít, buông bỏ khí cụ,  xa lìa mọi cách thức giết hại. 
Hành trì giới này như thế thì tự thân người Phật tử sẽ phát sinh ra rất nhiều năng lượng để giúp bảo bảo vệ sự sống cho mọi loài. Năng lượng ấy xuất phát phát từ tâm hổ thẹn và từ bi.

Và trong thế giới này, cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh và cái này diệt thì cái kia diệt, đó là chân lý duyên sinh muôn thuở. Sự sống cũng không tồn tại một cách độc lập. Sự sống của loài này liên quan đến sự sống của loài khác. Sự sống của con người liên quan đến nhiều loài động vật, thực vật, khoáng vật và môi sinh. Ta bảo vệ sự sống cũng có nghĩa là bảo vệ môi trường sống, bảo vệ màu xanh của trái đất. Có sinh vật nào sống bình yên hạnh phúc trong một dòng sông nước đen sì với mùi tanh hôi không? Và sự sống của loài hữu tình cũng không thể nào tách rời sự sống của loài vô tình như cỏ cây, cát đá. Nếu như thiếu ánh sáng mặt trời thì sinh vật trên trái đất này có sống còn được không?  Quán chiếu được lý duyên sinh thì chúng ta sẽ giữ giới này một cách thông minh và bảo vệ luôn cả các loài vô tình. Nếu suy xét cho kỹ thì người Phật tử không thể không hành trì giới thứ nhất này. Và chắc chắn rằng khi hành trì giới thứ nhất sẽ đem đến bình an và hạnh phúc thật sự bền lâu đến cho mình, cho người và mọi loài sinh vật.

Giới thứ hai: không trộm cướp.

Người đệ tử áo trắng xa lìa sự không cho mà lấy, chấm dứt sự không cho mà lấy,  ưa thích bố thí, vui vẻ trong sự bố thí và bố thí mà không cầu đền đáp. Vị này không bị tâm tham lam che lấp, luôn luôn bảo hộ sự liêm khiết của mình và dứt trừ sự không cho mà lấy. Đó là giới thứ hai mà người đệ tử áo trắng khéo hộ trì[6]

Bản chất của giới thứ hai là tính liêm chính và thực hiện tính công bằng xã hội. Giới này cũng thuộc tánh giới, diệt trừ tận gốc sự không cho mà lấy. Nghĩa là phải diệt trừ tâm niệm tham lam, nếu để tâm trạng này phát sinh thì trí tuệ bị che lấp. Đức Phật dạy người Phật tử chân chính tạo ra của cải đồng thời dùng của cải đó cho người thân trong gia đình và làm các công đức cần thiết là một trong bốn điều hạnh phúc, kinh gọi là lạc thọ dụng[7]. Người biết sử dụng tài sản và tiền bạc của mình đúng mục đích là đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối với các vị sa-môn, bà-la-môn, thiết trí cúng dường hướng thượng[8]. Đây là cách hành trì bố thí, nghĩa là pháp thứ nhất trong sáu pháp ba-la-mật (tiếng Hán: lục ba-la-mật-đa 六波羅蜜多, Sankrit: pāramitā) có công năng đưa đến sự an lạc hạnh phúc và thoát khỏi khổ đau. Bố thí là ban tặng niềm vui cho người và làm cho người vơi nỗi sầu đau nên người cư sĩ thường ưa bố thí, tìm niềm vui trong sự bố thí và bố thí mà không cầu sự đền đáp. Thực hành giới thứ hai này bằng tâm từ bi, không mang tính hình thức thì sẽ đem lại sự an lạc và hạnh phúc thật sự lâu dài cho mình và người. Người Phật tử tu tập được tâm từ bi, có ý thức bảo vệ tài sản mình, bảo vệ tài sản người, thực hành bố thí để mang lại niềm vui cho người và niềm vui được phục vụ lý tưởng mình nên bố thí mà không mong cầu đền đáp.

Giới thứ ba: không tà dâm

 Người đệ tử áo trắng xa lìa tà dâm, chấm dứt sự tà dâm, bảo vệ cho bất cứ ai, dù người ấy nằm trong sự bảo hộ của cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, hoặc chị em, hoặc anh em, hoặc cha mẹ bên sui gia, hoặc gia đình sui gia, hoặc bởi người đồng tính, hoặc là vợ con hay chồng con kẻ khác, kể cả kẻ bị cuồng dâm khủng bố, hoặc kẻ bán phấn buôn hương. Vị này dứt bỏ tâm niệm tà dâm[9]

Đức Phật dạy giới này để bảo vệ hạnh phúc cá nhân, gia đình và xã hội. Cũng như hai giới đầu, giới này thuộc tánh giới, dứt bỏ tâm niệm tà dâm. Nếu ý niệm bảo vệ hạnh phúc phát sinh trong lòng người hành trì thì việc giữ giới này sẽ dễ dàng. Trong xã hội, biết bao nhiêu gia đình ly tán, bao nhiêu sinh linh chưa kịp chào đời đã bị phá bỏ, bao nhiêu đứa trẻ phải sống bất hạnh côi cút vì hành động thiếu trách nhiệm của người lớn. Bản chất căn bản của giới này là phải thật sự bảo vệ hạnh phúc cho người ở hiện tại và tương lai. Nếu Phật tử kiểm soát được ý nghĩ của mình, sống có trách nhiệm với hành động của mình, có ý tưởng bảo vệ hạnh phúc cho người ở hiện tại và tương lai thì sẽ không bị ý niệm tà dâm che mờ tâm trí ta. Như thế, khi thực hành giới này, người Phật tử phải hiểu là không quan hệ bất chính với người khác phái.

Giới thứ tư: không nói dối.

Người đệ tử áo trắng xa lìa nói dối, chấm dứt sự nói dối, chỉ nói sự thật, tìm niềm vui trong sự nói lên sự thật, an trú nơi sự thật không lúc nào đổi dời, có thể được tin cậy hoàn toàn và không bao giờ dám miệt thị kẻ khác. Vị ấy dứt trừ sự nói dối[10]

Đối tượng hành trì giới này là tôn trọng sự thật. Trong kinh văn là an trú nơi sự thật không lúc nào đổi dời. Sự thật là đối tượng của niềm tin chân thật, là ánh đuốc soi đường. Sự thật là chánh pháp. Vì thế người hành trì giới này không những tìm niềm vui trong sự nói lên sự thật mà biết cách tuyên dương giáo pháp nữa. Người biết giữ chữ tín bao giờ cũng được người khác tin cậy hoàn toàn và như thế có thể thực hiện công việc độ sinh, làm cho giáo pháp đi vào lòng người để họ sống đời an vui hạnh phúc. Khi hành trì giới này, người Phật tử phải biết lắng nghe những nỗi khổ niềm vui của người khác với tất cả sự trân trọng của mình. Với thái độ tôn kính khiêm cung, người thực hành giới không bao giờ cho mình là người hiểu sâu giáo pháp, nắm bắt chân lý, vì vậy họ không bao giờ dám miệt thị kẻ khác.

Ai cũng biết là lời nói không tốn tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Lời nói có thể đem lại sự an vui và hạnh phúc cho người nhưng cũng có thể đem phiền não khổ đau cho nhiều người xung quanh. Người thực hành giới này có thể tránh được nhiều phiền não khổ đau, gầy dựng niềm tin đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Vì thường lắng nghe người khác nên làm cho người vơi bớt nỗi khổ đau. Xây dựng niềm tin, đem đến hạnh phúc cho người và biết lắng nghe để làm vơi đi nỗi ưu sầu của người là điều căn bản của người thực tập thứ tư này.

Giới thứ năm: không uống rượu.

Người Phật tử tại gia xa lìa rượu, chấm dứt sự uống rượu, dứt trừ thói quen uống rượu[11].

Rượu là những chất làm ma túy làm mất khả năng kiểm soát của ý thức nên gây tạo nhiều tội lỗi. Rượu phá tan hạnh phúc gia đình, làm xáo trộn tâm hồn nhiều thế hệ. Nếu trẻ con sống trong gia đình nghiện ngập rượu thì tâm hồn nó rất dễ tổn thương và cuộc sống của nó sẽ bị bất thường. Thời Phật tại thế thì rượu là chất ma túy căn bản còn thời công nghiệp hóa hiện đại hóa hôm nay có rất nhiều thứ ma túy, thế nên người Phật tử phải chấm dứt sự uống rượu, dứt trừ thói quen uống rượu.
Người Phật tử thực hành giới thứ năm này là bảo vệ hạnh phúc cho gia đình mình, làm cho xã hội yên bình và giúp cho người thoát khỏi ma men.

Người đam mê rượu che là nguyên nhân làm thất thoát tài sản[12] . Nếu người đảm trách  cuộc sống gia đình mà nghiện rượu thì kinh tế sa sút, dẫn đến gia cảnh túng quẩn. Người nghiện rượu bia thì sức khỏe bị đe dọa. Tuy nhiên nguồn gốc của nghiện ngập là do con người. Nếu sống thiếu ý thức, không có định hướng thì rất dễ bị sa ngã.

Để thực hành giới này người Phật tử phải sống có lý tưởng, sống có mục đích và phải có niềm tin nơi chính mình, xây dựng gia đình văn hóa chuẩn mực, giúp các thành viên trong gia đình mình tìm về cội nguồn tâm linh của dân tộc. Thế nên trong kinh Người áo trắng, đức Phật dạy người Phật tử phải quán niệm  Phật, pháp, tăng và quán niệm về giới để vun bồi tưới tẩm niềm tin, là cho niềm tin càng ngày càng kiên cố và tỏa sáng cho người noi theo.

Đạo Phật ra đời nhằm mục đích cứu khổ ban vui. Mà có nỗi khổ nào hơn là mất niềm tin nơi chính mình, sống buông lung không định hướng, không biết ngày mai mình sẽ đi về đâu. Thế nên đức Phật dạy người Phật tử phải thực hành năm nguyên tắc đạo đức này. Và trong kinh Người áo trắng nói: người quy y tam bảo và thực hành năm giới này thì chắc chắn không còn sa đọa vào ba đường ác. Đây cũng chính là những nấc thang hạnh phúc thực sự và bền lâu mà Phật tử thường mong đợi.
 
[1] Theo Banseladze : “Hạnh phúc là một hiện tượng vừa thuộc vật chất, vừa thuộc tinh thần.”
“Trong lãnh vực khoái cảm vật chất, khoái cảm càng mạnh thì càng ngắn ngủi. Cường độ khoái cảm tỉ lệ nghịch với độ dài thời gian của nó.”
“Trong lãnh vực những khoái cảm về tinh thần, nhân tố thời gian có vai trò hoàn toàn khác: thời gian tác động có lợi cho con người. Ở đây không có quy luật tỉ lệ nghịch, ngược lại, cường độ khoái cảm càng cao trong lãnh vực này thì nó càng kéo dài.
[2] HT Thích Minh Châu dịch, Trung bộ I, kinh Tiểu khổ uẩn.
[3] HT Thích Minh Châu dịch, Tăng chi bộ, chương Bốn pháp, phẩm Nghiệp công đức, kinh Không nợ.
[4] HT Thích Minh Châu dịch, Tăng chi bộ, chương Tám Pháp, phẩm Gotami, kinh Dìghajanu, Người Koliya.
[5] T01n0026_p0616b15║ 「舍梨子!云何白衣聖弟子善護行五法,白衣聖弟子者,離殺、斷殺,棄捨刀杖,有慙有愧,有慈悲心,饒益一切乃至蜫蟲。彼於殺生淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第一法。
[6] T01n0026_p0616b19║舍梨子!白衣聖弟子離不與取、斷不與取,與而後取,樂於與取,常好布施,歡喜無恡,不望其報,不以偷所覆,常自護已。彼於不與取淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第二法。
[7] HT. Thích Minh Châu dịch, Tăng chi bộ, chương Bốn pháp, Phẩm nghiệp công đức, kinh Không nợ.
[8] HT. Thích Minh Châu dịch, kinh Tương ưng, tập 1, chương 3, Tương ưng Kosala, phẩm thứ hai, kinh không con.
[9] T01n0026_p0616b23║「舍梨子!白衣聖弟子離邪婬、斷邪婬,彼或有父所護,或母所護,或父母所護,或兄弟所護,或姉妹所護,或婦父母所護,或親親所護,或同姓所護,或為他婦女,有鞭罰恐怖,及有名雇[16]債至華鬘親,不犯如是女。彼於邪淫淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第三法。
[10] T01n0026_p0616b29║舍梨子!白衣聖弟子離妄言、斷妄言,真諦言,
║樂真諦,住真諦不移動,一切可信,不欺世間。彼於妄言淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第四法。 「復次,舍梨子!白衣聖弟子離酒、斷酒。彼於飲酒淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第五法。 
[11] T01n0026_p0616c04║舍梨子!白衣聖弟子離酒、斷酒。彼於飲酒淨除其心,白衣聖弟子善護行,此第五法。
[12] HT Thích Minh Châu dịch, Trường bộ kinh, Tập 2, kinh Giáo thọ Thi Ca La Việt.

Tác giả bài viết: Diệu Quý

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TuongQuanAm
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập2
  • Hôm nay242
  • Tháng hiện tại6,428
  • Tổng lượt truy cập2,195,478
FixL PhatDan
FixR PhatDan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây