VU LAN – Mùa Hiếu Hạnh

Thứ ba - 05/04/2016 04:40
 “Mỗi độ thu sang nhớ bóng người
Đây mùa Hiếu Hạnh mãi xanh tươi
Bao tâm hồn trẻ nương theo dấu
Của bước người đi tỏa sáng ngời
Từ độ xa xăm …Giải đảo huyền
Mở mùa Hiếu Hạnh: Mục Kiền Liên
Bát cơm muôn thuở ngùn hơn lửa
Nước mắt tuôn theo bóng mẹ hiền”
 (thơ Huyền Không)
VU LAN – Mùa Hiếu Hạnh
Người Phật tử hàng năm theo truyền thống cứ đến ngày rằm tháng bảy, lại hướng về cha mẹ, ông bà tổ tiên trong nhiều đời nhiều kiếp với tinh thần “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”. Ngày Vu Lan đã trở thành ngày lễ hội của tình người, không phải riêng của Phật giáo Việt Nam mà còn cả dân tộc Việt Nam.

Vu Lan còn mang ý nghĩa đặc biệt, ngày Chư Phật hoan hỷ, Tăng Tự tứ, ngày của sự khoan dung cởi mở. Đây còn là ngày hội của sự nhớ ơn và tưởng niệm công ơn của các đấng sanh thành trong tinh thần báo đáp tứ trọng ân: Ân Tam Bảo, Ân cha mẹ, Ân đất nước và Ân đàn na tín thí.

Vu Lan hay còn gọi là Vu Lan Bồn (Ulambana), Trung Quốc dịch là Cứu đảo huyền, hay Giải đảo huyền nghĩa là cởi trói cho người bị treo ngược. Ý nói rằng những người tạo tội phải chịu tội báo trong đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh bị hành hạ thống khổ vô cùng cũng như người bị treo ngược vậy.

Cũng ngày rằm tháng bảy này cách đây hơn hai ngàn năm trước, Đức Đại hiếu Mục Kiền Liên vì biết mẹ mình là bà Mục Liên Thanh Đề khi còn sanh tiền đã tạo nên ác nghiệp nên sau khi thân hoại mạng chung chắc chắn sẽ bị đọa vào địa ngục, nên Ngài đã vận dụng thần thông xuống địa ngục tìm mẹ. Khi biết mẹ mình đói khát, Ngài dâng bát cơm:

“Đây bát cơm đầy nặng ước mong
Mẹ ơi đây ngọc với đây lòng
Đây tình còn nặng trong tha thiết
Ơn nghĩa sanh thành chưa trả xong”

Thế nhưng, khi mẹ ngài vừa đưa bát cơm vào đến miệng, vì tập khí tham lam bỏn xẻn sợ những tội nhân khác giành bát cơm của mình nên đã lấy tay che bát cơm lại nhưng than ôi bát cơm đã hóa thành than lửa. Đau xót vì mình là đại đệ tử của Đức Phật, có đầy đủ lục thông mà vẫn không cứu được mẹ thoát khỏi khổ hình, ngài liền trở về bạch với Đức Phật tìm cách để cứu mẹ. Đức Phật vì lòng bi mẫn nhân cơ hội thuận duyên này đã dạy Tôn giả nên sắm sanh lễ vật cúng dường Chư Tăng, nhất là trong ngày Tự tứ để nương nhờ tịnh đức của Chư Tăng sau ba tháng an cư kiết hạ, đạo lực của quý ngài tăng trưởng, hầu mong cứu độ không những cho cha mẹ hiện tiền mà cho cả cha mẹ ông bà nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ. Do nhờ oai thần của Tam Bảo, mẹ ngài thoát khỏi cảnh địa ngục, sanh về cõi lành. Ngài Mục Kiền Liên hết sức vui mừng chắp tay bạch Phật: “Bạch Đức Thế Tôn, thân mẫu con được nhờ công đức Tam Bảo nên được thoát ly kiếp khổ ngạ quỷ. Vậy đời sau, trong hàng Phật tử muốn thiết lễ Vu Lan Bồn này để cứu độ cha mẹ hiện tại cùng bảy đời cha mẹ, chẳng biết có được không?”.

Đức Phật dạy: “Quý lắm! Này Mục Kiền Liên, đời sau nếu có Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, vua, thái tử, các quan tướng cho đến các hàng dân dã v. v… vì muốn báo đền công ơn cha mẹ hiện tại hay quá khứ thì đến rằm tháng bảy là ngày Phật hoan hỷ mà thiết lễ Vu Lan, nhờ sức chú nguyện của Chư Tăng, cha mẹ hiện tại được tăng phước tăng thọ, an lạc, cha mẹ bảy đời thoát khỏi tam đồ sanh lên cõi lành an lạc không cùng”. Và cũng bắt đầu từ ấy, ngày rằm tháng bảy đã trở thành ngày VU LAN BÁO HIẾU, là một dịp để cho những người con hiền cháu thảo thể hiện lòng hiếu đạo của mình. Cũng chính vì lẽ đó mà đạo Phật còn được gọi là đạo Hiếu. Đức Phật là một tấm gương sáng ngời và tiêu biểu cho tinh thần hiếu đạo ấy. Ngài dạy: “Tâm Hiếu là tâm Phật, hạnh Hiếu là hạnh Phật. Muốn chứng quả đồng với Chư Phật, việc làm trước tiên là lo báo hiếu song thân”. Đức Phật cũng là một tấm gương sáng ngời về lòng hiếu hạnh. Sau khi thành đạo, Ngài đã trở về thành Ca-tỳ-la-vệ để giáo hóa phụ thân, khi nghe tin phụ vương lâm trọng bệnh, Ngài vội vàng quay về thành Ca-tỳ-la-vệ cùng với chúng đệ tử trú tại vườn Thượng uyển, và mỗi ngày Đức Phật đều đích thân mình vào cung vấn an sức khỏe phụ vương ba lần trong suốt thời gian vua cha thọ bệnh. Trong những giây phút cuối đời của vua cha, Ngài đã đến bên giường bệnh thuyết pháp cho phụ vương nghe, nhờ vậy mà phụ thân của Ngài đã đắc quả vị A La Hán. Lúc này, chính Đức Phật đã tắm rửa cho phụ vương, thay đổi y áo, làm lễ nhập kim quan; luôn cả ngày trà tỳ, Ngài cũng đã ghé một bên vai đưa phụ vương đến nơi trà tỳ. Sau lễ trà tỳ, Ngài thu nhặt xá lợi phụ vương đem về làm lễ nhập tháp.

Đối với hoàng hậu Ma-gia, người mẹ hiền sớm khuất bóng, lòng hiếu thảo của Ngài lại càng đặc biệt hơn. Ngài đã dùng thần lực lên cõi trời Đao Lợi để tiếp độ Phật mẫu. Nơi đây Ngài an cư kiết hạ trong suốt ba tháng, Đức Phật đã thuyết giảng tạng A-Tỳ-Đàm (Abhidhamma) cho mẫu thân nghe, và khi được thuyết pháp, Người đã chứng quả Tu Đà Hoàn.
Trong kinh Tăng Chi, Đức Phật thường khen ngợi những người biết ơn và biết báo ơn một cách chân chính. Ngài dạy rằng người biết ơn là hạng người hy hữu trong đời này: “Này các Tỳ kheo, sự xuất hiện của ba hạng người trên thế gian này thật là hy hữu. Những gì là ba? Sự xuất hiện của Như Lai, bậc A La Hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác trên thế gian này thật lày hy hữu; cũng vậy, người có thể tuyên thuyết pháp và luật mà Đức Như Lai đã dạy; và người luôn chánh niệm, biết ơn thì thật là hy hữu trên thế gian này”. Ngài còn dạy rằng một người cao thượng là người biết ơn và luôn ghi nhớ công ơn mà mình đã nhận từ người khác. Biết ơn và chánh niệm là những đặc điểm của một người cao thượng.

Tôn giả Xá Lợi Phất cũng là một người con hiếu hạnh vô song. Khi biết thọ mạng của mình không còn bao lâu nữa, Tôn giả liền xin phép Đức Phật được trở về thăm lại và nhập diệt tại quê nhà. Mẹ Ngài vẫn còn tin theo Bà-la-môn giáo, dù gia sản đồ sộ, bà vẫn không quen thực hành hạnh bố thí, cúng dường và tu tập theo chánh đạo. Khi trở về quê, Tôn giả thị hiện bệnh tật, Đế Thích và các thiên chúng khác đến vấn an, mong được hầu hạ, nhưng Tôn giả từ chối vì rằng xung quanh Ngài đã có nhiều pháp hữu chăm lo. Sau khi Chư Thiên từ giã Tôn giả, bà Xá Lợi liên vào hỏi thăm và được biết rằng trong số chư thiên đó có cả người mà mình đang tôn thờ: Trời Đế Thích – một chúng sanh đang còn trầm luân, trí tuệ và đạo lực kém xa con mình. Bà vô cùng bất ngờ và sự kiện đó đã chuyển hướng cuộc đời của bà theo Chánh pháp. Bà sám hối lỗi lầm của mình và xin nguyện quy y Tam Bảo.
Ngày lễ Vu Lan nhắc nhở cho chúng ta công lao trời bể sanh thành dưỡng dục, nuôi nấng của cha mẹ để từ đó chúng ta phải thể hiện lòng hiếu đạo của mình đối với cha mẹ theo đúng tinh thần của lời Phật dạy. Chẳng những chỉ ngày này chúng ta mới báo hiếu, mới nhớ ơn cha mẹ thôi đâu mà phải luôn luôn hiếu kính, phụng dưỡng cha mẹ từ vật chất đến tinh thần khi cha mẹ còn sanh tiền, không làm cho cha mẹ rơi lệ vì con ngỗ nghịch hay khi thấy con mình hư đốn. Chúng ta phải cố gắng phấn đấu làm một con người tốt, con người hữu dụng cho đời, làm rạng danh cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Nếu cha mẹ đã quá vãng phải cố gắng làm việc phước thiện để hồi hướng công đức cho cha mẹ để cha mẹ nương nhờ các công đức ấy mà được siêu sanh về các cảnh giới khác tốt hơn. Được như vậy mới là người con có hiếu, mới đáp ứng được một phần nào công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ, mới thực sự là những người con của Phật, theo đúng tinh thần và hạnh nguyện của Chư Phật:

 “Tâm Hiếu là tâm Phật
Hạnh Hiếu là hạnh Phật”.

Tác giả bài viết: Thích Minh Hải

Nguồn tin: Tâm Như

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

TuongQuanAm
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập12
  • Hôm nay386
  • Tháng hiện tại4,076
  • Tổng lượt truy cập2,286,971
FixL PhatDan
FixR PhatDan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây