TRIẾT LÝ NGÔN NGỮ

Thứ hai - 21/03/2016 10:15
Cuộc sống là một mối giao hòa bất tận giữa những cá thể đang tồn tại trong cộng đồng nhân sinh. Trong mối giao hòa đó, ngôn ngữ chính là phương tiện trao đổi đắc lực nhất mà con người dùng để thể hiện bản thân mình.
TRIẾT LÝ NGÔN NGỮ
Ngôn ngữ, trước hết là một dạng thông tin mà con người dùng để giao tiếp, biểu lộ tâm tư tình cảm và để  phản ánh hiện thực. Sự xuất hiện ngôn ngữ đã đánh dấu một bước ngoặc vĩ đại trong lịch sử tiến hóa văn minh của loài người. Ngôn ngữ là một trong những tiêu chí phân biệt giữa con người và động vật. Nhờ có ngôn ngữ mà thế giới loài người đạt đến đỉnh cao của văn minh tiến bộ. Tuy nhiên, ngôn ngữ lại giống như con dao hai lưỡi, bên cạnh việc làm cầu nối yêu thương để con người cảm thông, chia sẻ và xích lại gần nhau hơn thì ngôn ngữ đôi khi lại làm cho con người dễ hiểu lầm và xa nhau hơn. Chính vì hai mặt phải và trái của ngôn ngữ có tác động vừa tích cực vừa tiêu cực như vậy mà các vị Thiền sư đã có những suy nghĩ thực tiễn rằng đôi khi không bị vướng mắc vào chữ nghĩa lại là một cái hay trong sự thăng hoa của tâm hồn. Dù rằng không biết chữ nhưng với những tâm hồn “thiên phú”, đó lại là điều kiện để tiến đến con đường thành tựu của bậc vĩ nhân.

Khác hẳn với triết học phương Tây đi sâu vào ngôn ngữ, lý luận để phân tích hay thành lập các trường phái triết lý dựa trên cơ sở lí luận thì văn hóa Đông phương vẫn còn giữ quan niệm về việc sử dụng “cái tâm” để thể nhập bản thể chân thật của sự vật. Có những thứ cần phải dùng lý trí để phân biệt nhưng đôi lúc lý trí lại làm cho người ta them rối rắm, mơ hồ, đây gọi là “càng nghĩ thì càng hồ đồ, càng giải thích lại càng mù quáng”; những lúc này chỉ có “tâm” hay một thứ giác quan nhạy bén mới có thể trực diện và đạt đến chỗ thâm sâu vi diệu nhất. Đó cũng chính là lúc phải bỏ lí luận đi tìm trực quan, ,bỏ cái “tướng” mà đi tìm cái “thể” để xa rời cái văn minh cơ tâm và hệ thống lý luận bát nháo, trở lại tự tánh nguyên thủy vốn “như thị” của vạn vật vậy.

Chúng ta có thể lấy ví dụ về cuộc đời của Lục tổ Huệ Năng để biện chứng cho lí luận trên.

LỤC TỔ HUỆ NĂNG (638-713 TL)

Theo sử 33 vị Tổ thiền tông Ấn-Hoa, Tổ họ Lư, người Lĩnh Nam, sống vào thời nhà Đường, lúc nhỏ mồ côi cha, gia đình rất nghèo túng nên phải vào rừng đốn củi nuôi mẹ. Gia đình nghèo khổ, một chữ bẻ đôi cũng không biết. Vì nhìn duyên tình cờ nghe được câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” trong kinh Kim Cang, Sư tỉnh ngộ bèn lặn lội đến chùa Đông Sơn, tại huyện Huỳnh Mai ra mắt Ngũ Tổ  Hoằng Nhẫn cầu xin học đạo. Sư vào yết kiến Tổ, Tổ hỏi:
 
- Ngươi từ đâu đến?
Sư thưa:
Từ Lĩnh Nam đến.
Đến đây để cầu việc gì ?
Đến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác.
- Người Lĩnh Nam không có Phật tánh, làm sao cầu làm Phật được?
- Người thì có Nam Bắc, chớ Phật tánh không chia Nam Bắc.

Tổ biết Sư là hàng pháp khí thượng căn, bèn bảo xuống nhà trù làm công quả. Từ đây, Sư bắt đầu chuyên bửa củi, giã gạo, làm công việc nặng nhọc như vậy gần ngót sáu tháng, mà chưa khi nào trễ nải, thối chí.

Tổ Hoằng Nhẫn biết thời cơ truyền pháp đã đến, liền ra lệnh cho toàn chúng trình kệ. Trong số chúng bảy trăm người đều suy nhường cho Thượng tọa Thần Tú. Thần Tú bèn làm bài kệ:

Thân là cội bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Luôn luôn phải lau chùi
Chớ để dính bụi bặm.

Huệ Năng nghe bài kệ của Thần Tú, biết là chưa thấy tánh, bèn nhờ người biên giùm một bài kệ hòa lại:

Bồ đề vốn không cội
Gương sáng cũng chẳng đài
Xưa nay không một vật
Chỗ nào dính trần ai?

Rõ ràng Lục tổ đã mượn chữ nghĩa trong bài kệ chưa thấy tánh của ngài Thần Tú để chỉnh sửa lại thành bài kệ thấy tánh của mình, để từ đó được nhận y bát của Ngũ tổ và trở thành vị Tổ thứ sáu của thiền Trung Hoa. Có lần đến Thiều Châu, Sư  gặp Sư cô Vô Tận Tạng đem quyển kinh Niết Bàn ra hỏi nghĩa lý, Sư bảo:
Chữ thì thôi không biết, nghĩa tùy cô cứ hỏi.

Sư cô bảo:
- Chữ còn không biết, nghĩa làm sao hiểu nổi?

Huệ Năng đáp:
Diệu lí của chư Phật, chẳng quan hệ gì đến văn tự.

Từ khi vào chùa Đông Sơn đến khi tiếp nhận y bát của Ngũ tổ rồi ẩn dật về phương Nam, cuộc đời của Lục tổ Huệ Năng đã trải qua nhiều gian nan thử thách nhưng với tâm của những bậc Bồ tát xuất thế thì dường như nghịch duyên lẫn vô học thức đều không hề làm nao núng bước đường hành đạo của các Ngài mà đôi khi lại chuyển hóa thành nhân duyên. Thật ra, tinh thần “Bất lập văn tự” đã xuất hiện từ thời Đức Phật Thích Ca rồi đến Sơ tổ Bồ-đề-đạt-ma nhưng mãi đến khi xuất hiện một Huệ Năng không biết chữ, triết lý thiền đó mới được tỏa sáng và góp phần đưa pháp môn Thiền đạt đến đỉnh cao của sự cứu cánh.

Trường hợp của Ngài Huệ Năng được xem là một trường hợp đặc biệt trong Phật giáo , việc chứng đắc của Ngài đã phá tan định kiến học Phật của nhiều người cho rằng chỉ người có trí thức, có học vấn mới có thể tu đạo và chứng ngộ. Sự chứng ngộ của Lục tổ đã chứng thực rằng tất cả chúng sinh từ phàm phu đến Thánh nhân đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật. Đây là một minh chứng thuyết phục mọi người đều có thể tin tưởng vào giáo lý thanh tịnh, bình đẳng của Đức Phật: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, Như Lai thường trụ không có biến đổi”.

Trở lại với ngôn ngữ và lần lượt chiêm nghiệm cuộc đời của Lục tổ Huệ Năng, chúng ta nhận thấy rằng Thiền tông không hẳn là không chú trọng đến chữ nghĩa. Chính vì lẽ đó, họ đã xây dựng nên những nhân vật dù xuất thân hèn kém, dốt nát hay xấu xa nhưng vì tâm hồn họ giản đơn, không bị vướng mắc vào những hệ thống lý luận rườm rà, bác học để từ đó họ thể hiện bản thân mình cũng đơn giản, chất phác. Nhưng đằng sau cái đơn giản đó là cả một thế giới tiềm ẩn mà người ta chưa khai thác được hết.

Khi xưa, trên hội Linh Sơn, cành sen trắng Phật đưa lên chỉ có Ngài Ca Diếp mỉm cười, đó là nụ cười của sự khai ngộ, vượt tất cả mọi suy luận mà không thông qua một trung gian ngôn ngữ nào cả, bởi vì ngôn từ chỉ là một phương tiện để mở ra một cánh cửa, một lối thoát cho chúng sanh. Vâng, ở đây chúng ta chỉ đề cập đến văn tự như là một phương tiện thiện xảo trên con đường đi đến cứu cánh mà thôi. Dù rằng về mặt tuyệt đối, chân lý của thực tại vượt ngoài ngôn thuyết , ngoài tất cả những mô tả và diễn đạt. Nhưng kinh Pháp Hoa cũng đã trình bày rất rõ, mục đích thuyết pháp của Phật là nhằm “Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến”, do đó để có thể mở ra con đường tri kiến đó, Đức Phật phải sử dụng đến tập quán suy tư và nhận thức của chúng sanh thông qua hệ thống ngôn ngữ mới có thể dẫn dắt chúng sanh vào Đạo được. Tuy nhiên, một khi đã đạt đạo rồi  thì phải nên bỏ thuyền mà lên bờ chứ không nên khư khư vác thuyền theo nữa. Trong kinh Kim Cang, Đức Phật có dạy rằng: “Này các Tỳ-kheo, các ông nên biết, Ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn nên bỏ, huống chi là phi pháp” cũng là để diễn đạt điều trên vậy. Về tư tưởng này, người Trung Quốc cũng quan niệm rằng, trong trường hợp phải mượn tới chữ nghĩa, cũng phải nên xếp bỏ chữ nghĩa sau khi đạt lý. “Mượn nơm bắt cá, được cá phải quên nơm, mượn lời dẫn ý, được ý phải quên lời” (Lão Tử).

Trong suốt 49 năm thuyết pháp độ sinh, Đức Phật luôn ví dụ Pháp của Ngài như ngón tay chỉ mặt trăng “Nhất thiết tu-đa-la giáo như tiêu nguyệt chỉ” (Tất cả kinh giáo Ta dạy như ngón tay chỉ mặt trăng). Thế nên bậc Đạo sư suốt đời vân du thuyết pháp của chúng ta đến cuối đời đã tuyên bố rằng: “Suốt 49 năm trụ thế, Ta chưa từng nói một lời nào”, hay trong kinh Kim Cang, Ngài cũng dạy rằng: “Nếu nói Như Lai có thuyết pháp tức là phỉ báng Phật, người ấy chẳng hiểu nghĩa sở thuyết của Ta”. Thật là bánh xe pháp đã chuyển động ròng rã trong suốt 49 năm, thế mà khi nhìn lại nó vẫn chưa hề chuyển động để có một vòng quay!

Rõ ràng, từ pháp hội Linh Sơn, từ thông điệp giác ngộ “niêm hoa vi tiếu” đến khi sắp nhập Niết Bàn, pháp ngữ mà Đức Phật thể hiện như là một ẩn ngữ “bất khả tư nghì”, vượt khỏi phạm vi tri kiến của hạng phàm phu thường tình. Vì ẩn ngữ này mà Tổ Đạt Ma phải thả một bè lau qua Trung thổ, chín năm trầm hùng ngồi nhìn vách đá trên ngọn núi Thiếu Thất cô liêu, để rồi suốt ngàn năm sau, triết lý “dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật” vẫn còn vang vọng mãi khắp chốn tòng lâm hôm nay và dường như nụ cười vi tiếu của Ca Diếp trong pháp hội trước cành hoa của đấng Thế Tôn vẫn còn đọng lại đâu đây trong gió thoảng…

Tác giả bài viết: Vạn Đức

Nguồn tin: Tâm Như 2

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

TuongQuanAm
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập8
  • Hôm nay380
  • Tháng hiện tại13,551
  • Tổng lượt truy cập2,245,072
FixL PhatDan
FixR PhatDan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây