CHÙA VẠN ĐỨC - ĐÀ LẠT

http://chuavanducdalat.com


Tâm Như

Thực hiện chủ trương hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Hoằng pháp Thành hội Phật giáo Đà Lạt cho ra đời tập san Tâm Như.
Tâm Như là pháp danh của Hòa thượng Thích Trí Thủ, bậc hiền đức tiên phong có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giáo dục và hoằng pháp cao cả của Giáo hội.
Thích Trí Thủ
Hòa thượng húy danh Nguyễn Văn Kính, tự Đạo Giám; sinh ngày 01-11-1909 trong một gia đình có truyền thống sùng mộ đạo Phật ở làng Trung Kiên, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Từ tấm bé, Ngài theo học Hán tự. Năm 14 tuổi, theo bác ruột vào học kinh ở chùa Hải Đức, Huế. Năm 17 tuổi, Ngài thọ học với thiền sư Viên Thành tại chùa Trà Am, Huế. Hòa thượng được bổn sư nhận làm đệ tử thứ tư, ban pháp danh Tâm Như, pháp tự Đạo Giám. Ba đại sư huynh ngộ pháp nổi danh của Hòa thượng là các ngài Trí Uyên, Trí Hiển và Trí Giải.


Năm 20 tuổi, bổn sư cho vào thọ giới đàn tại chùa Từ Vân Đà Nẵng. Hòa thượng trúng tuyển Thủ Sa di trong số 300 giới tử tại giới đàn. Do vậy, bổn sư Viên Thành đã cho pháp hiệu Thích Trí Thủ, ngụ ý khen tặng (chữ Thủ: người đứng đầu). Năm 23 tuổi, sau hai năm cư tang bổn sư tại chùa Trà Am, Hòa thượng cùng các pháp lữ vào tham học với Hòa thượng Phước Huệ tại chùa Thập Tháp, Bình Định.

Học xong, Hòa thượng làm giáo thọ dạy trường Phật học Phổ Thiên ở Đà Nẵng; sau đó trở về Huế mở trường Phật học tại chùa Tây Thiên, cung thỉnh Tăng cang Giác Nhiên chùa Thiền Tôn làm giám đốc, Hòa thượng Phước Huệ chùa Thập Tháp làm đốc giáo dạy nội điển, đồng thời mời các cư sĩ như bác sĩ Lê Đình Thám, các cụ Nguyễn Khoa Toàn, Cao Xuân Huy…dạy ngoại điển theo trình độ đại học. Ở trường này, Hòa thượng đã chính thức học chương trình đại học Phật giáo cũng như văn hóa đồng thời làm giảng sư cho Hội Phật học Huế và dạy lớp Trung đẳng Phật học cũng mở tại chùa Tây Thiên. Lúc này, Hòa thượng 27 tuổi. Khi hội Phật học mở trường tiểu học Phật giáo tại chùa Báo Quốc, Hòa thượng tham gia giảng dạy ở đây.
Năm 1938 (29 tuổi), sau khi tốt nghiệp trường Phật học Tây Thiên, Ngài về trụ trì chùa tổ Ba La Mật nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy cho Hội và các trường Phật học.

Năm 1939, Ni trường được thành lập tại chùa Từ Đàm. Sơn môn và hội Phật học giao Hòa thượng điều hành việc đào tạo Ni trường này. Đây là cơ sở Ni bộ đầu tiên được hình thành.

Năm 1940, Hòa thượng trùng tu chùa Ba La Mật.
Năm 1940, Hòa thượng trùng tu chùa Ba La Mật.

Cũng trong năm này, Ngài tham gia lãnh đạo Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Lâm Đồng, văn phòng đặt tại chùa Linh Sơn, Đà Lạt. Tiếp theo là các Hòa thượng Thích Diệu Hoằng (1940-1947), Hòa thượng Thích Từ Mãn (1947-1952), Hòa thượng Thích Bích Nguyên (1952-1964) và Ôn Từ Mãn tiếp nối lại từ năm 1964 cho đến khi Ôn thị tịch. . .

Năm 1941, Ngài mở trường Sơn môn Phật học tại chùa Linh Quang Huế.

Ngoài chủ trương xây dựng kinh tế tự túc cho học chúng làm phương tiện tu trì trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thời bấy giờ, Ngài còn hết sức tạo điều kiện cho học tăng học thêm văn hóa, thi lấy các loại bằng cấp ngoài đời. Đây là một bước tiến bộ vượt bậc trong quá trình đào tạo tăng tài so với chủ trương đào tạo tăng sinh theo nếp cũ.

Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, với cương vị Trị sự Sơn môn Thừa Thiên, Hòa thượng đã cùng nhiều vị thành lập hội Phật giáo cứu quốc Trung bộ, chủ trương tờ nguyệt san Giải Thoát làm cơ quan hoằng pháp. Hòa thượng đắc cử đại biểu hội đồng nhân dân Thừa Thiên và được chính quyền Cách mạng mời đến Trung bộ phủ giao quyền sắp đặt lại chùa chiền, hủy bỏ chế độ chùa vua trước đó. Năm 1948 (39 tuổi), Hòa thượng làm chủ giới đàn tại chùa Báo Quốc, phục hồi ý nghĩa Thất chứng mà các trường giới xưa nay ít coi trọng. Ngài cũng phân chia riêng Tăng, Ni hai bộ. Tăng độ cho tăng, Ni độ cho ni.

Năm 1951 (42 tuổi), với chức vụ Hội trưởng hội Việt Nam Phật học Trung phần - nằm trong hệ thống Tổng hội Phật giáo Việt Nam có sáu tập đoàn Phật giáo Bắc, Trung, Nam, đứng đầu là Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ - Hòa thượng đặt viên đá đầu tiên xây dựng trường Tiểu học Tư thục Bồ Đề tại Thành nội Huế. Đây là điểm mở đầu mạng lưới giáo dục Phật giáo, đóng góp vào sự nghiệp hoạt động xã hội nhân sinh, xây dựng đất nước theo tinh thần nhập thế vốn có ở đạo Phật tự ngàn xưa. Mạng lưới giáo dục này sau đó liên tục phát triển nhanh chóng trên phạm vi cả nước, với quy mô cả ba cấp học.

Năm 1952, Hòa thượng tạm nghỉ việc Hội, chuyên tâm giáo dục học tăng tại Phật học đường Báo Quốc. Cuối năm 1956, Phật học viện Trung phần thành lập tại Nha Trang, Hòa thượng thân làm Giám viện. Năm 1957, thấy đa số tăng ni sinh của Phật học viện đã đến tuổi thọ giới, Ngài cho mở giới đàn và thân làm đàn chủ.

Để phát triển kinh tế tự túc ở Phật học viện, Hòa thượng cho một số tăng ni theo học cách thức chế biến và mở hãng sản xuất nước tương, hương đèn, giấm ăn, xà phòng…; sử dụng sức lao động của nội chúng và phật tử chưa có việc làm ở gần chùa. Hầu hết học tăng của Phật học viện đều được Hòa thượng cho học cả hai chương trình nội điển và ngoại điển. Nhờ cách đào tạo đó mà nơi đây đã trở thành nguồn cung cấp dồi dào những Chánh đại diện giáo hội các tỉnh, quận, hoặc trụ trì, hiệu trưởng, giám học các trường Bồ Đề, quản lý nhà in, nhà phát hành kinh sách khắp miền Trung…

 Về sau, một số trở thành giảng sư, giáo sư đại học phục vụ đạo và đời.
Năm 1960 (51 tuổi), Hòa thượng khai kiến tu viện Quảng Hương Già Lam ở Gò Vấp. Năm 1962, Ngài dẫn đầu phái đoàn Phật giáo Việt Nam tại miền Nam sang Lào tham dự Đại lễ thế giới kỷ niệm năm 2500 đức Phật nhập Niết bàn.

Phật đản năm 1963 khởi đầu pháp nạn, Hòa thượng về Huế cùng các vị lãnh đạo Phật giáo hướng dẫn phong trào đấu tranh bảo vệ đạo pháp và dân tộc cho đến khi bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giữ. Ngày 1-11-1963, bạo quyền Sài Gòn sụp đổ. Qua cơn pháp nạn, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất ra đời với 11 đoàn thể các hệ phái Phật giáo toàn miền Nam. Hòa thượng được bầu vào Ban dự thảo Hiến chương Giáo hội. Trong nhiệm kỳ đầu, Hòa thượng giữ chức Tổng vụ Hoằng pháp. Công việc hoằng pháp và giáo dục tăng ni là mối quan tâm hàng đầu của Ngài. Ở nhiệm vụ và vai trò này, Hòa thượng đã lần lượt mở ba đại hội hoằng pháp: một tại Phật học viện Nha Trang, một tại chùa Xá Lợi và một tại chùa Ấn Quang. Hoạt động và thành quả hoằng pháp đều được tổng kết ghi lại trong ba tập Kỷ yếu Đại hội. Ngài còn thành lập Giảng sư đoàn và cắt cử mỗi vị phụ trách một tỉnh để diễn giảng Phật pháp cho tín đồ. Sau đó, Hòa thượng còn thành lập Phật học viện Phổ Đà ở Đà Nẵng. Năm 1964, Hòa thượng thân làm Viện trưởng viện Cao đẳng Phật giáo thành lập tại chùa Pháp Hội Sài Gòn, tiền thân của viện Đại học Vạn Hạnh sau này. Ngài còn chủ trương các tập san Tin Phật, Bát nhã để gióng tiếng pháp cho đời. Năm 1965, sau khi ổn định mọi Phật sự, Ngài hành hương chiêm bái các danh lam Phật tích tại Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Hồng Kông, Đài Loan, giao thiệp với nhiều danh tăng các nước.

Sau thời làm Tổng vụ trưởng tổng vụ Hoằng pháp, Ngài lại được giáo hội trao giữ nhiệm vụ Tổng vụ trưởng tổng vụ Tài chánh. Năm 1968 (59 tuổi), Hòa thượng được giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất chính thức làm lễ tấn phong Hòa thượng. Cũng năm này, Hòa thượng chủ khai đại giới đàn tại Phật học viện Nha Trang. Năm sau, Ngài tiến hành đại trùng tu Tổ đình Báo Quốc.

Từ Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 5 và 6, Hòa thượng giữ chức vụ Viện trưởng Viện Hóa đạo, đến năm 1975 kiêm phụ tá đức Tăng Thống, cho đến khi đất nước và đạo pháp chuyển sang giai đoạn lịch sử mới.

Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, trước chiều hướng mới và cũng thể theo ý hướng thống nhất mà xưa nay Phật giáo Việt Nam vẫn thường ấp ủ, với cương vị Viện trưởng Viện Hóa đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, Hòa thượng đã liện hệ chư tôn túc lãnh đạo các hệ phái và tổ chức Phật giáo khác trong cả nước, bàn bạc việc thống nhất Phật giáo Việt Nam. Chính đây là nguyện vọng chung của toàn thể Tăng Ni và Phật tử. Nguyện vọng này đã thể hiện cụ thể tại Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất kỳ 7 họp tại chùa Ấn Quang, Chợ Lớn ngày 23-1-1977 gồm 160 đại biểu của 54 đơn vị trong giáo hội mà Hòa thượng nhân danh Viện trưởng tân nhiệm đã ký thông bạch 7 điểm trong đó có điểm thứ sáu nguyên văn: Đại hội cẩn ủy Giáo hội Trung ương tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần Đạo pháp và truyền thống dân tộc.

Sau khi Ban vận động thống nhất Phật giáo thành hình, Hòa thượng được bầu làm Trưởng ban vận động và khi hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại thủ đô Hà Nội ngày 7-11-1981, Hòa thượng đắc cử Chủ tịch Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ đầu tiên. Những năm cuối của báo thân, tuy tuổi già sức yếu, Hòa thượng vẫn không xao lãng việc đạo việc đời. Năm 1979 và 1982, Ngài dẫn đầu đoàn đại biểu phật giáo Việt Nam dự đại hội thứ 5 và thứ 6 của tổ chức Phật giáo châu Á vì hòa bình tại Mông Cổ. Năm 1980, làm trưởng đoàn đại biểu Tôn giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động Tôn giáo thế giới vì hòa bình và giải trừ quân bị, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Nhật Bản. Năm 1981, làm trưởng đoàn Phật giáo Việt Nam dự hội nghị các nhà hoạt động tôn giáo thế giới vì hòa bình và sự sống, chống chiến tranh hạt nhân, tổ chức tại Liên Xô; cũng năm này, Ngài kiến tạo thêm chánh điện tu viện Quảng Hương Già Lam. Năm 1983, dự hội nghị các vị đứng đầu Phật giáo năm nước châu Á tổ chức tại Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

Dù bận rộn Phật sự suốt con đường hành đạo, Hòa thượng vẫn dành thời gian phiên dịch kinh, biên soạn sách để hoằng dương chánh pháp. Các tác phẩm chính của ngài gồm: Kinh Phổ Môn, kinh Phổ Hiền, Mẹ hiền Quán Âm, kinh Vô thường, kinh A di đà, kinh Thập Thiện nghiệp đạo, kinh Đại phương đẳng Như lai tạng, kinh Bất tăng bất giảm, Pháp môn tịnh độ, Tâm kinh Bát nhã Ba la mật đa, Luật Tỳ kheo, Luật Bồ tát, Luật Tứ phần, Luật Khuyến phát Bồ đề tâm, Nghi thức truyền giới Bồ tát tại gia và Thập thiện, Nghi thức Phật đản, Nghi thức lễ sám buổi khuya và các tác phẩm khác đã in và chưa in.

Mãn báo thân 76 tuổi đời, 56 tuổi đạo, vào lúc 21 giờ 30 ngày 2-4-1984 (2-3 Giáp Tý), Hòa thượng thị tịch tại Quảng Hương Già Lam, quàn tháp tại đây chờ di quan phụng Tổ tại Tổ đình Báo Quốc theo nguyện ước lúc sinh tiền. (*)

Cũng như pháp hiệu Trí Thủ, pháp danh Tâm Như của ngài Đạo Giám mang nhiều ý nghĩa sâu sắc: 1. Trước hết, Tâm Như chính là bản tâm uyên nguyên, thường trụ (Thường trụ chân tâm), cũng gọi là Phật tánh, Như Lai tánh (không đến không đi, bất sanh bất diệt)

2. Tâm Như còn là Tâm Như Thị của Pháp Hoa.
3. Tâm Như là Viên Giác diệu tâm (Viên Giác).
4. Tâm Như là thường Trụ chân tâm (Lăng Nghiêm).
5. Tâm Như là tâm làm mọi việc mà không hề vướng mắc (Kim Cang).

Mang tên Tâm Như, tập san hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo thành phố Đà Lạt tâm nguyện phổ biến sâu rộng chánh pháp của đức Như Lai để hướng mọi người chúng ta tới trong muôn một chân tâm thâm uẩn đó.

Được sự chỉ đạo của Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Lâm Đồng và Thành hội Đà Lạt, tập san Tâm Như dự kiến mỗi năm sẽ phát hành ba số vào các dịp lễ Phật đản, lễ Vu Lan và lễ Thành đạo. Mỗi số đều có các bài giáo lý cơ bản và các bài viết theo chủ đề. Đây là diễn đàn để chư tôn túc tham gia hoằng dương giáo hóa.

Số đầu tiên ra đời trong mùa Vu Lan báo hiếu kính mừng sự thành công của Đại hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Lâm Đồng.
Kính mong sự hưởng ứng, đóng góp và trợ duyên tích cực của chư tôn túc, của những bậc thức giả cùng tất cả các vị hâm mộ Phật pháp để Tâm Như được đến với đông đảo quần chúng Phật tử và bạn đọc xa gần.
 
* Theo TOÀN TẬP TÂM NHƯ TRÍ THỦ, nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2002, tr. 20

Tác giả bài viết: Vạn Trí

Nguồn tin: Tâm Như

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây