TÌM HIỂU LÝ DO PHẬT GIÁO THẤM NHẬP Ở VIỆT NAM

Chủ nhật - 03/04/2016 10:22
Những công trình nghiên cứu của các nhà tôn giáo và lịch sử cho thấy Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu kỷ nguyên Tây lịch. Từ đó đến nay Phật giáo đã tồn tại và biến thiên theo sự thăng trầm suốt chiều dài lịch sử dân tộc, đã hòa quyện vào lối sống, suy tưởng, tập quán của người Việt. Không ai có thể phủ nhận Phật giáo đã làm giàu đẹp thêm cho bản sắc riêng của nền văn học, văn hóa, đạo đức và mỹ thuật của nước nhà.
TÌM HIỂU LÝ DO PHẬT GIÁO THẤM NHẬP Ở VIỆT NAM

Qua kho tàng văn học bình dân mà đặc thù là ca dao, tục ngữ, một phản ảnh trung thực mọi sinh hoạt, trí tuệ, tình cảm, tín ngưỡng…của người dân Việt trong chặng đầu lịch sử đất nước, chúng ta có thể hiểu được những lý do đã giúp Phật giáo trong giai đoạn sơ khởi có thể hòa nhập, bám rễ ở Việt Nam và rồi được người dân Việt hiểu, tin, chấp nhận và ủng hộ cho tôn giáo có xuất xứ từ Ấn Độ này tồn tại và phát triển với một bề dày lịch sử như thế.

Ai cũng biết rằng tổ tiên chúng ta trước kia sống chủ yếu nhờ vào ruộng vườn, nương rẫy. Công việc nhà nông chẳng khi nào ung dung, nhàn nhã, thêm vào đó lại còn chịu nhiều cảnh khốn khổ dưới ách thống trị của ngoại xâm, của thiên tai, dịch bệnh, đói kém... Do vậy, người Việt đã hiểu rõ một cách sâu sắc nỗi khổ cực của cuộc đời, của thân người:

-“Gánh cực mà đổ lên non,

Cong lưng mà chạy cực còn chạy theo.”

-“Về coi đồng Mía, cồn Trăm,

Cả đời vất vả, quanh năm đói nghèo.”

Do vậy, khi đạo Phật du nhập, tuyên giảng giáo lý Tứ đế, Khổ đế, người dân ta đồng tình và sẵn lòng chấp nhận sự thật hẳn nhiên của lời dạy về Khổ này:

-“Có thân phải khổ vì thân”

-“Đã mang lấy cái thân tằm,

Không tơ vương nữa cũng nằm trong tơ.”

-“Ba năm trấn thủ lưu đồn,

Ngày thì canh gác, tối dồn việc quan.

Chém tre đẵn gỗ trên ngàn,

Hữu thân hữu khổ biết phàn nàn cùng ai…”

Sống quanh năm giữa thiên nhiên đồng nội, người dân ta dễ dàng nhận hiểu được sự liên quan chặt chẽ của vạn pháp như  Duyên khởi của Phật giáo đã đề ra:

-“Có cây thì dây mới leo,

Có cột, có kèo mới thả đòn tay.”

-“Không có mây sao có mưa.”

-“Không có lửa sao có khói.”

Tương tự như thế, hòa nhập cuộc sống giữa đất trời trong suốt bốn mùa, người dân cũng nhận hiểu được lẽ Vô thường, biến đổi, chuyển dời của vũ trụ, nhân sinh:

-“Sáng mưa, trưa nắng, chiều nồm,

Trời còn luân chuyển huống mồm thế gian.”

-“Đêm khuya thức dậy xem trời,

Thấy sao bên Bắc đổi dời bên Nam.”

-“Đời người khác nữa là hoa,

Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn.”

Vì thế, chúng ta không lạ gì người dân có thể đồng thuận ngay với triết lý Vô thường của đạo Phật:

-“Đời người như bóng phù du,

Sớm còn, tối mất, công phu lỡ làng.”

Hiểu rõ được lý Vô thường, người dân dễ dàng am tường Tánh Không của Phật giáo. Họ không đau buồn với thế sự vô thường, trái lại an sống với những gì đang có và không tham đắm vào lợi danh, tiền tài vì nhận thức được:

-“Sinh không tử lại hoàn không,

Khó ta ta chịu, đừng mong giàu người.”

-“Vua Ngô ba sáu tàng vàng,

Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì”

-“Công danh bánh vẽ, sang giàu chiêm bao”

Họ lạc quan, nỗ lực sống vượt qua cảnh khổ và bình an đợi chờ sự xoay chuyển tốt đẹp vào ngày mai:

-“Chẳng lo chi áo rách tay,

Trời kia ngó lại vá may mấy hồi.”

-“Người có lúc vinh cũng có lúc nhục,

Nước có lúc đục cũng có lúc trong.”

-“Chẳng ai giàu ba họ, không ai khó ba đời.”

Triết lý Phật giáo cũng dạy họ Thuyết Nhân quả, Nghiệp báo, vấn đề thật phù hợp với sự thấy biết và đạo lý của người dân Việt từ lâu:

-“Trồng cây chua, ăn quả chua; Trồng cây ngọt, ăn quả ngọt.”

-“Ở hiền thì lại gặp lành,

Ở ác gặp dữ tan tành ra tro.”

Am hiểu thêm về thuyết Nhân quả, Nghiệp báo  Luân hồi của Phật giáo, người dân Việt thấy rõ hậu quả khổ đau của việc làm ác: “Một đời làm hại, bại hoại ba đời.” Họ đã có niềm tin rằng: “Đời xưa trả báo còn chầy; Đời nay trả báo một giây nhãn tiền.” Do vậy họ kết luận: “Làm việc phi pháp, sự ác đến ngay”.Từ đó, họ khuyên nhau phải càng sống lành thiện:

-“Ai ơi hãy ở cho lành,

Kiếp này chẳng gặp để dành kiếp sau.”

-“Người trồng cây hạnh người chơi,

Ta trồng cây đức để đời về sau.”

Cuộc sống người dân Việt xưa rất đạm bạc và trải qua nhiều gian nan, khổ sở. Do đó họ dễ cảm thông, giàu lòng bi mẫn, hay động lòng thương xót, giúp đỡ người cùng cảnh ngộ như được thấy qua các câu tục ngữ: “Lá lành đùm lá rách”, “cành dưới đỡ cành trên” hay “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.Vì thế, người dân ta làm sao có thể phủ nhận, phản đối được giáo lý Từ, Bi, Hỉ, Xả thâm thúy của Phật giáo. Họ khuyên nhắc nhau lòng hỉ xả:

-“Lấy oán báo oán, oán thù chồng chất,

Lấy ân báo oán, oán ấy tiêu tan.”

-“Ăn đời ở kiếp chi đây,

Coi nhau như bát nước đầy thì hơn.”

Họ đối xử nhau với lòng từ bi, độ lượng:

-“Mình nói dối ta mình hãy còn son,

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.

Con mình những trấu cùng tro,

Ta đi xách nước rửa cho con mình.”

Họ bảo ban nhau: “Điều lành thì nhớ, điều dỡ thì quên”. Họ động lòng bi mẫn trước đồng loại: “Thịt da ai cũng là người” và ngay với sinh vật: “Chim kêu ai nỡ bắn”,”Cứu vật, vật trả ơn”.Nhờ vậy, họ sống gắn bó, thân thiết với nhau trong tình làng, nghĩa xóm và sẵn lòng giúp đỡ nhau khi “Tắt lửa, tối đèn” đến mức họ có thể “Bán anh em xa, mua láng giềng gần.”

Ngoài xã hội, người dân Việt thích sống với nhau hòa nhã nên tinh thần Nhẫn nhục của Phật giáo cũng thích hợp với tâm tư mọi người. Câu tục ngữ “Một sự nhịn, chín sự lành” gần như là câu cửa miệng của các bậc sinh thành thường khuyên dạy con cái khi chúng vào trường học hay trường đời. Hiểu được thâm sâu ý nghĩa nhẫn nhục của Phật giáo, họ sống bình an không đua tranh khôn dại vì nhận rõ “Khôn thế gian (rồi cũng) làm quan địa ngục; (mà cái) dại thế gian (mới) làm quan thiên đường.” Nhân dân ta đã ca ngợi ý nghĩa cao đẹp của chữ nhẫn như sau:

-“Chữ nhẫn là chữ tượng vàng,

Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.”

Trong gia đình, người dân đề cao lối sống biết kính trên, nhường dưới và lòng hiếu thảo với các đấng sinh thành. Điều này một lần nữa lại rất hòa hợp với đạo Hiếu của Phật giáo. Nếu dân Việt thường ca ngợi lòng hiếu thảo qua câu ca dao quen thuộc:

-“Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Chúng ta sẽ thấy người dân hiểu tinh thần đạo Hiếu trong Phật giáo một cách đúng nghĩa trong các câu ca dao sau:

-“Chân như đạo Phật rất mầu,

Tâm trung chữ hiếu, niệm đầu chữ nhân.

Hiếu là độ được đấng thân,

Nhân là vớt khỏi trầm luân mọi loài.”

-“…Đi về lập miếu thờ vua,

Lập trang thờ mẹ, lập chùa thờ cha.”

 Đạo Hiếu của Phật giáo đã thâm nhập mạnh mẽ trong tâm hồn người Việt, đã hình thành một Đại lễ Vu Lan, một Mùa Báo Hiếu vào tháng Bảy âm lịch hàng năm, lôi cuốn hầu hết các người theo Phật giáo cũng như không theo cùng tham dự hầu mong có dịp báo hiếu, cầu an cho cha mẹ hiện đời và cầu siêu cho hương linh song thân cùng quyến thuộc đã khuất.

-Rằm tháng giêng ai siêng thì quảy,

Rằm thàng bảy người quảy khắp nơi.”

 Bình đẳng cũng là một nét đặc thù của giáo lý Phật giáo. “Cửa chùa rộng mở”cho tất cả mọi người như một thông lệ và đã trở thành tục ngữ chứa đựng tinh thần Bình đẳng tột cùng. Trong kinh Phật có câu “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” thì người bình dân ta cũng hiểu điều đó theo cách nôm na của họ:

-“Hơn nhau tấm áo manh quần,

Cởi ra mình trần ai cũng giống ai.”

Có thể nói tinh thần Bình đẳng này là yếu tố quan trọng khiến người dân không e ngại khi đến chùa. Đặc biệt hơn nữa, khi vào chùa họ sẽ trông thấy tượng Phật Thích Ca Mâu Ni mà họ hay gọi bằng Bụt, một bậc Giác ngộ, họ vô cùng kính quí:

-“Chùa nát nhưng có Bụt vàng,

Tuy rằng miếu đổ thần hoàng còn thiêng”.

Họ tin đức Phật có phép thần thông biến hiện và có lòng từ bi thương xót, phù hộ, cứu giúp cho các chúng sanh có thiện tâm đang cần cầu cứu giúp:

-“Nghiêng vai ngưỡng vái Phật trời,

Đương cơn hoạn nạn độ người trầm luân.”

-“Đêm đêm khấn nguyện Phật trời,

Cầu cho cha mẹ sống đời với con”.

-“Lên chùa lạy Phật quy y,

Cầu cho tuổi nớ, tuổi ni kết nguyền”

 -“Tay bưng quả nếp vô chùa,

Thắp nhang lạy Phật xin bùa em đeo.”

Người dân ta cung kính đức Phật nhưng đều có quan niệm đức Phật là một bậc chí thiện, chí lành “Hiền như Bụt”, đến nỗi đã có câu ca dao ví von:

“Gần chùa gọi Bụt bằng anh,

 Trông thấy Bụt lành hạ xuống đất chơi.”hay (Trông thấy Bụt lành, bế Bụt đi chơi.)

Dù câu ca dao trên có ý mỉa mai những kẻ lấn lướt người hiền, nhưng hình tượng để ví cũng đủ để thấy người bình dân quan niệm sự hiền từ và hỉ xả của đức Phật đến mức độ nào.

Do vậy, chùa làng ở quê là nơi thờ Phật, tuy trang nghiêm, uy nghi nhưng lại thật gần gũi, thân thiết với người dân. Chùa quê là chùa chung của mọi người dân. Chung đúng với ý nghĩa xác đáng của nó. Người dân chung nhau góp công, góp của xây dựng chùa, chung nhau đến lễ Phật, nghe pháp và tu tập. Bất cứ ai đến chùa cũng được hưởng lộc Phật một cách bình đẳng “Làm quan ăn lộc vua, ở chùa ăn lộc Phật”, không như ở đình làng có sự phân biệt các vị chức sắc khiến dân thường phải e dè: “Bụng lép vì đình, bụng phình vì chùa”.Bởi tính cách chung này mà từ “của chùa” vô tình đã biến đổi ý nghĩa thành “miễn phí” hay “công cộng”!

Nhưng có phải nghĩ rằng“của chùa”rồi ai cần gì đều có thể tự do đến lấy dùng riêng?

“Trống chùa ai đánh thì thùng,

Của chung ai khéo vẫy vùng nên riêng.”

 Không như thế, người dân đều có ý thức bảo vệ, gìn giữ chùa: “Muốn ăn oản phải giữ lấy chùa”. Họ truyền nhau lời Phật dạy:

“Tham thì thâm,

Bụt đã bảo thầm rằng chớ có tham.”

Họ cũng biết khuyên bảo nhau không nên lấy vật dụng của Tam bảo vì:

Của Bụt mất một đền mười,

Bụt hãy còn cười, Bụt chẳng lấy cho.”

Với tinh thần đó, chùa hiện hữu trong mọi thôn làng, gắn liền với mọi sinh hoạt và tâm tình của người dân quê. Từ sáng sớm, tiếng chuông chùa ngân nga báo thức người dân tỉnh giấc, chuẩn bị sinh hoạt trong ngày.

“Trên chùa đã động tiếng chuông,

Gà Thọ Xương đã gáy, chim trên nguồn đã kêu”

Chiều chiều, khi hoàng hôn phủ dần trên thôn xóm, tiếng trống chùa trầm ấm trỗi lên thúc giục người dân về sum vầy với gia đình:

“Chiều chiều bìm bịp giao canh,

Trống chùa đã đánh sao anh chưa về?”

Chùa là hình ảnh thân quen, trìu mến, là nguồn cảm thông, nơi an ủi, chia xẻ với người dân khi hoạn nạn, lúc lâm nguy hay trong cơn bịnh đau, sầu khổ. Chùa cũng là nơi chung vui với người dân lúc có hỉ sự hay làm nơi tổ chức các lễ hội truyền thống dân tộc đặc sắc, độc đáo:

-“Dù ai đi đâu về đâu,

Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về.

Dù ai buôn bán trăm nghề

Nhớ ngày mồng tám thì về hội Dâu.”

-“Nhớ ngày mồng bảy tháng ba

Trở về hội Láng, trở ra chùa Thầy

Hội chùa Thầy có hang cắc cớ,

Trai chưa vợ nhớ hội chùa Thầy.”

Chùa như thế trở thành một nhu cầu thiết yếu đáp ứng sinh hoạt tín ngưỡng, tinh thần, văn hóa, đạo đức của người dân. Cho nên người dân có thể chịu“Cha đánh, mẹ treo cũng không bỏ chùa Keo ngày rằm”. Họ rất tự hào ở gần chùa:

-“Gần chùa phong cảnh mọi đàng,

Ở gần thợ nhuộm vẻ vang mọi màu”

Phong cảnh thanh thoát, đạo vị cùng với những kiến trúc mỹ thuật độc đáo của chùa chiền đã tạo nên nét đặc thù cho nền văn hóa nghệ thuật của nước nhà. Dần dà chùa trở thành danh lam, thắng cảnh đáng tự hào của địa phương hay của dân tộc Việt: “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Đây cũng là một trong những lý do khiến người dân tìm đến chùa tham quan, thưởng ngoạn:  

“Rủ nhau xem cảnh Kiếm Hồ

Xem cầu Thê Húc, xem chùa Ngọc Sơn.

Đài Nghiên, tháp Bút chưa mòn,

Hỏi ai xây dựng nên non nước này.” 

Đạo Phật nói chung và chùa nói riêng như thế đã gắn liền với tâm hồn dân tộc, đã trở thành biểu tượng không thể thiếu của quê hương:

“Mái chùa che chở hồn dân tộc,

Nếp sống muôn đời của tổ tông” (Huyền Không)

Cho nên chúng ta cảm nhận được niềm lưu luyến, nhớ tiếc chùa đến xót xa khi một người phải xa quê hương:

“Mai này tôi bỏ quê tôi,

Bỏ trăng, bỏ gió, chao ơi bỏ chùa!”  

Tóm lại, đạo Phật vừa là một tôn giáo, vừa là một triết học Đông phương. Những giáo lý căn bản của Phật giáo như thế đã rất thích hợp với tín ngưỡng và triết lý sống của người phương Đông, phù hợp với tính chất căn bảo đạo lý dân tộc Việt, thích ứng với dân tộc tính và nền văn minh nông nghiệp Việt Nam lúc ấy. Điều này ắt hẳn là lý do trước tiên khiến đạo Phật dễ dàng thâm nhập nhanh chóng và sâu rộng vào nước Việt.

Thêm vào đó, triết lý đạo Phật đề cao con người, đặt trên nền tảng nhân bản, tôn trọng lý trí, sự bình đẳng, quyền được sống, được hưởng sự giải thoát, an lạc của mọi loài chúng sinh. Giáo lý Phật giáo cũng lo cho hạnh phúc con người cả ở hiện tại, tương lai và khi nhắm mắt lìa đời.

Đạo Phật như thế đã là nguồn cảm thông, an ủi, là chỗ dựa tinh thần của người dân Việt Nam trong những lúc khổ đau, khốn khó. Đạo Phật cũng đem lại cho con người sự lạc quan, yêu đời và tin tưởng vào chính khả năng tốt đẹp của mình. Người dân Việt tin rằng sự tu sửa bản thân sẽ điều chỉnh cho cuộc sống muôn lần tốt đẹp hơn: 

-“Mười năm lưu lạc giang hồ,

Một ngày tu tác cơ đồ lại nên.”

-“Ai ơi chớ nghĩ mình hèn,

Kìa như nước đục, đánh phèn lại trong.”

Do vậy, một cách tự nhiên, người dân yêu thích việc đi chùa, học đạo, xuất gia tu hành:

-“Mặc ai chát lợi mua danh,

Miễn ta học được đạo thành thì thôi.”

-“Chuyến này ta quyết đi tu,

Ăn chay, niệm Phật ở chùa Hồ Sen.”

-“Vô chùa thắp hết lọn nhang,

Miệng Nam Mô A Di Đà Phật,

Nguyện cùng trời chùa chật cũng tu.”

Đi chùa tu tập hay xuất gia tu hành đã trở thành gương tốt của xã hội. Người dân Việt quan niệm: “Tu là cội phúc, tình là dây oan.” Có tu hành chính chắn thì hưởng sự an lành, phúc đức nên được sống một cách bình yên không sợ hãi ngay cả khi qua chỗ hiểm nạn:

-“Lênh đênh qua cửa thần phù,

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.”

Vì thế họ dũng mãnh phát nguyện: “Tu không trọn đời, mặc áo tơi mà chết.” hay -“Tu cho trọn kiếp bụi hồng; Kẻo già lại tiếc rằng lòng từ bi.”

Tất cả những gì đã dẫn chứng ở trên rõ ràng đã nói được lý do tại sao người dân Việt đã chấp nhận, ủng hộ, hỗ trợ, bảo vệ Phật giáo để đạo Phật có thể thấm sâu vào mạch nguồn dân tộc.

Tác giả bài viết: Huệ Phúc

Nguồn tin: Tâm Như 1

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
TuongQuanAm
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập5
  • Hôm nay520
  • Tháng hiện tại4,898
  • Tổng lượt truy cập2,274,838
FixL PhatDan
FixR PhatDan
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây